BÁo cáo tham luậN icon

BÁo cáo tham luậN

Реклама:



tải về 76.9 Kb.
TênBÁo cáo tham luậN
Chuyển đổi dữ liệu01.07.2013
Kích76.9 Kb.
loạiTài liệu
nguồn

BÁO CÁO THAM LUẬN

CVHT: Đặng Văn Tiên – P.CTSV

Chuyên đề "Cách thức học ĐH, phương pháp và một số lưu ý khi học theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất, CVHT làm gì? tư vấn gì? cho việc học ở các năm tiếp theo".

Hiện nay đào tạo theo hệ thống tín chỉ (HTTC) vẫn được xem là hình thức đào tạo tiên tiến trên thế giới vì mục đích đào tạo của nó là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trình dạy - học. Thực hiện đào tạo theo là một yêu cầu của đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và đuổi kịp trình độ tiên tiến của thế giới. Chất lượng và tiện ích của đào tạo theo tín chỉ so với đào tạo theo niên chế là điều đã được khẳng định qua quá trình đào tạo nhiều năm ở các trường đại học uy tín trên thế giới. Cho đến nay, cả nước đã có nhiều trường chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Sự chuyển đổi này nhằm mục tiêu gì? Trước hết, tạo ra một học chế mềm dẻo, hướng về SV, tăng cường tính chủ động và khả năng cơ động của SV, đảm bảo sự liên thông dễ dàng trong quá trình học tập và tạo ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường lao động trong nước. Đồng thời làm cho hệ thống GDĐH nước ta hội nhập với khu vực và thế giới trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Trường Đại học Nha Trang thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm 2010. Đến nay, sau 3 năm thực hiện, học chế tín chỉ đã đi vào nề nếp: chương trình đào tạo đã được điều chỉnh phù hợp; quy trình quản lý và các quy định liên quan đã được xây dựng hoàn thiện hơn. Phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của sinh viên cũng được thích ứng dần với phương pháp đào tạo mới này. Đạt được những thành công trên đó là nhờ vào sự chỉ đạo của Đảng ủy, sự quyết tâm của Ban Giám hiệu, sự nhiệt tình của tất cả cán bộ, giảng viên, sinh viên trong quá trình giảng dạy và học tập và đặc biệt là vai trò của cố vấn học tập (CVHT).

Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo tiên tiến, vì thế nó đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp dạy và học, từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phương pháp. Cái chúng ta cần ở sinh viên ngày nay khi ra trường không phải là những kiến thức ghi chép được trong một quyển vở mà thầy đọc cho như trước kia, mà là năng lực tự học, sáng tạo, để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn, thậm chí chưa bao giờ được học ở trường. Học theo HTTC thì 1 tín chỉ, theo phương pháp sư phạm tích cực, đòi hỏi SV phải tự học tập nghiên cứu và được tính bằng 15 tiết lên lớp và 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Điều này cho thấy giờ dạy lý thuyết trên lớp giảm nhưng giờ thảo luận và tự học của sinh viên tăng nhiều, và được bố trí rõ ràng, chứ không mập mờ như trước kia. Sinh viên có cơ hội để tự học và học theo kiểu thảo luận nhóm, còn giảng viên chỉ là người giúp đỡ sinh viên cách tư duy, phương pháp tự học, sáng tạo, chứ không phải đơn thuần là truyền thụ lại kiến thức.   

Có thể thấy rằng, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải nắm chắc Quy chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ, để lập được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện và năng lực cụ thể của mình. Nhưng điều quan trọng hơn là sinh viên phải tiếp cận được với phương pháp học tập chủ động, lấy tự học và học tập theo nhóm làm chính, để đáp ứng được yêu cầu của đào tạo và quan điểm học tập suốt đời của thời đại ngày nay

Trong những năm học vừa qua, trường Đại học Nha Trang đã tạo được những bước đi đột phá trong công tác đào tạo và công tác học sinh sinh viên. Tuy nhiên, đối với nhiều sinh viên những câu hỏi như: Tại sao phải có phương pháp học tập? Học tập trong trường Đại học trước kia chỉ đơn thuần là tích lũy kiến thức thì ngày nay ngoài tích lũy kiến thức sinh viên phải biết tự phát triển kiến thức đã tích lũy được một cách sáng tạo trong thực tiễn sản xuất. Hơn nữa, vì khối lượng kiến thức học trong trường đại học trước kia còn ít nên sinh viên có thể dựa hoàn toàn vào kiến thức của thầy truyền đạt trên lớp là đủ, lặp lại những điều thầy nói, những điều thầy cho ghi và sáng tạo đôi chút là có thể được điểm cao và đáp ứng được nhu cầu ít biến động của xã hội. Ngày nay, khối lượng kiến thức trong trường Đại học tăng lên gấp bội vì nó vừa phải đảm bảo kiến thức cơ bản, tính kế thừa, vừa phải liên tục cập nhật biết bao cái mới. Nếu như, sinh viên vẫn chỉ dựa vào thầy theo kiểu ngày xưa thì làm sao thầy có đủ thời gian để giảng hết kiến thức của học phần trên lớp, làm sao thầy có thời gian để đọc cho các em ghi hết nội dung học phần, làm sao thầy có thể giải thích cho từng em một, đến từng đáp số như trước đây. Vậy thì, sinh viên ngày nay có cần phải dựa vào thầy nữa hay không? và câu “Không có thầy đố mày làm nên” còn đúng không? Tất nhiên, câu ngạn ngữ trên vẫn đúng và sinh viên không những vẫn phải dựa vào thầy mà còn phải biết dựa một cách thông minh hơn vì kho tàng kiến thức thì lớn mà thời gian thầy dành riêng cho từng sinh viên thì có hạn. Điều mà sinh viên cần học ở người thầy ngày nay không phải là toàn bộ nội dung kiến thức của học phần như xưa mà là những vấn đề cơ bản nhất của học phần và cách tiếp cận kiến thức của học phần. Có đi thì sẽ đến, có làm thì sẽ có kết quả. Khi đã có chỗ dựa là tấm gương tự học và sáng tạo của các thầy cô giáo và bài giảng, các SV phải chủ động trong học tập mà điều đầu tiên là việc lựa chọn các học phần đăng ký học trong mỗi học kỳ. Hãy nghiên cứu kỹ Quy chế, hỏi ý kiến các thầy cô giáo, các bạn để quyết định cho đúng. Việc tiếp theo, hãy mang theo bài giảng và những tài liệu liên quan đến học phần và mở ra để học bất cứ lúc nào có thể. Một điều tưởng chừng ít có liên quan tới phương pháp học tập đó là: mỗi sinh viên phải nhận thức được rằng mình là một bộ phận không thể tách rời của trường Đại học Nha Trang. Khi đã biết vì mọi người thì mọi người cũng sẽ vì mình, khi con người đã gắn bó với Nhà trường, đã cảm thấy mình là một bộ phận không thể tách rời của Nhà trường thì họ sẽ dám làm, dám hy sinh lợi ích riêng khi biết việc mình làm có lợi cho tập thể và sẽ cân nhắc trước khi làm một việc ảnh hưởng đến thương hiệu của Nhà trường. Thêm một sinh viên giỏi chắc chắn khác hẳn với việc thêm một sinh viên sẽ phải trở về địa phương. Chính tư tưởng cách mạng, chính trái tim nhân văn trong mỗi sinh viên khi được thức tỉnh sẽ là động lực mạnh mẽ nhất để các em có thể đổi mới phương pháp học tập một cách toàn diện và có hiệu quả.

  1. Cách thức học ĐH, phương pháp và một số lưu ý khi học theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất.

Trong đào tạo theo tín chỉ, vai trò của người học được đặc biệt coi trọng (lấy người học làm trung tâm). SV phải có thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, có kĩ năng giải quyết vấn đề, tự chủ động thời gian hoàn thành một môn học, một chương trình đào tạo. SV là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức. Đây chính là việc đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Có 5 loại giờ học: giờ lý thuyết, giờ thảo luận, giờ học nhóm, giờ thực hành, thực tập, thí nghiệm, tự học, tự nghiên cứu vì vậy sinh viên phải có cách học tương ứng với từng giờ học.
^

1. Giờ lý thuyết

Giờ lý thuyết là giờ học đầu tiên và quan trọng nhất. Sinh viên phải làm tốt các nhiệm vụ sau:


a. Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan, hoàn thành bài tập, chuẩn bị bài trình bày tại các buổi thảo luận, chuẩn bị các nội dung làm việc theo nhóm, các vấn đề cần hỏi để trao đổi với giảng viên, ôn bài, đọc bài mới,..

b. Thực hiện thật tốt kế hoạch chi tiết nói trên để tích lũy được kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu từng bài học;

c. Trước khi đến lớp: xem xét lại việc hoàn thành kế hoạch học tập của mình để chắc chắn đã hoàn thành "khối lượng kiến thức" mà giảng viên đã yêu cầu hoặc các vấn đề cần trao đổi nhằm giải đáp những khúc mắc, chưa rõ;

d. Ghi chép trên lớp cho được các mục sau:

Mục tiêu của bài học và cấu trúc của nội dung bài học;

Những kiến thức cốt lõi của bài học định hướng tư duy và cho việc lập kế hoạch hoàn thành "khối lượng kiến thức" theo yêu cầu;

Các hướng dẫn của giảng viên cho sinh viên tự học (ví dụ học liệu nào, ở đâu, địa chỉ cụ thể của các kiến thức cần tìm, cách xử lí các kiến thức đó để hoàn thành mục tiêu bài học).

Hiệu quả của sự ý thức chăm chú lắng nghe

- Giúp SV rút ngắn thời gian ôn tập sau này.

- Làm bài tập nhanh chóng và dễ dàng hơn.

- Không ngỡ ngàng khi đọc lại các đề cương học tập.

- Nắm được trọng tâm, trọng điểm bài học.

- Tự tin và hứng thú khi đi học.

^ Những điều lưu ý khi nghe giảng bài.  

- Không được bỏ qua hoặc xem nhẹ thời gian đầu của tiết học.

- Tập trung theo dõi bài giảng, nói chung chưa nên nghĩ đến việc sẽ làm gì vì điều đó sẽ phá vỡ logic của quá trình nghe giảng.

- Tập trung nghe, hiểu vấn đề rồi ghi chép theo ý hiểu của mình. Chú ý ghi dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài giảng, chú ý tới trọng tâm, mấu chốt của vấn đề.

- Tập trung vào những nội dung chính, những điểm quan trọng nhất mà giảng viên thường nhấn mạnh qua ngữ điệu, qua việc nhắc lại nhiều lần.

- Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ và các tài liệu trực quan khác mà giảng viên đã giới thiệu, vì đây là lúc người thầy hệ thống hóa, so sánh, phân tích... để nắm được trình tự tiến dần đi đến kết luận và rút ra cái mới.

- Khi gặp chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó sau để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn.

- Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức, liên hệ thực tiễn và làm rõ những chỗ chưa hiểu.

- Nên dành vài phút để đọc lướt qua một lượt tài liệu sẽ học trước khi nghe giảng. Biết được những vấn đề khó để nhắc mình chăm chú hơn khi nghe giảng. (Lưu ý! Xem trước không thể thay thế việc nghe giảng bài).  

- Ghi chép: Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự viết tắt hơn. Không cần phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Hãy dành thời gian để nghe các thầy cô giải thích kĩ hơn về định nghĩa, khái niệm, cách chứng minh… Chỉ ghi chép những gì mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách không có. Ngoài ra, vở của người bạn học sẽ là tài liệu hữu ích vì có thể lúc đãng trí bạn bỏ sót một chi tiết quan trọng trong bài giảng.

Nghe giảng bài là phương pháp học có hiệu quả nhất, giúp chúng ta thu nhận kiến thức mới sâu rộng hơn để hoàn thiện trình độ học vấn. Không những thế, biết lắng nghe không chỉ giúp tiến bộ nhanh chóng trong học tập mà đồng thời còn rèn luyện cho chúng ta biết tu dưỡng bản thân, nó cũng là một thái độ đúng đắn, lịch sự cần có trong giao tiếp xã hội để được mọi người yêu quý. Vì vậy, phương pháp nghe để trở thành người có năng lực biết lắng nghe là phương pháp học có hiệu quả nhất và cũng là cần thiết trước nhất.  
^

2. Giờ thảo luận

Sinh viên phải làm tốt các nhiệm vụ sau:


a. Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công và hướng dẫn của giảng viên;

b. Trình bày báo cáo theo phân công;

c. Theo dõi, bổ sung, góp ý bài trình bày của các bạn cùng lớp, hoàn chỉnh bài trình bày đó hoặc của mình;

d. Hỏi, đối thoại, tranh luận những vấn đề đã trình bày tại buổi thảo luận;

e. Theo dõi sự nhận xét, tổng kết của giảng viên để hoàn chỉnh bài trình bày tại buổi thảo luận;

f. Sắp xếp tài liệu có được sau từng buổi thảo luận theo kế hoạch nghiên cứu, học tập của bản thân để dễ sử dụng cho các mục đích khác như làm bài tập nhóm, bài tập lớn học kỳ, kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ....

3. Giờ hoạt động theo nhóm
^

Sinh viên phải làm tốt các nhiệm vụ sau:


Một trong những phương pháp học quan trọng trong đào tạo theo tín chỉ là phương pháp học theo nhóm. Học nhóm giúp SV hỗ trợ nhau trong học tập, sinh hoạt đời sống SV là điều hết sức cần thiết. Nhóm học tập sẽ giúp nhau cùng ôn bài khi thi, cùng nhau mua tài liệu. Học cùng nhau có thể tăng sự hứng thú khi lên lớp. Một nhóm thường từ 5-7 SV (ghép các SV khá, giỏi với SV yếu kém).

a. Nhận nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, mẫu báo cáo hoạt động theo nhóm;

b. Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công (bằng văn bản) cho từng thành viên với nhiệm vụ, thời gian hoàn thành, nguồn tài liệu tham khảo, lịch họp nhóm theo kế hoạch. Chủ động thực hiện các nhiệm vụ đặt ra của buổi thảo luận nhóm hay bài thực hành, triển khai kế hoạch mà bản thân đã dự kiến, chuẩn bị trước, xem xét kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra;

c. Nhóm trưởng lập báo cáo, thông qua toàn nhóm trước khi nộp cho giảng viên. Xem xét lại những gì đã thu nhận được và tóm tắt lại kết quả chính các buổi hoạt động theo nhóm cho bản thân và lưu giữ phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ.

4. Giờ thực hành, thực tập, thí nghiệm
^

Sinh viên phải làm tốt các nhiệm vụ sau:


a. Hoàn thành công tác chuẩn bị cho thực hành, thực tập, thí nghiệm theo yêu cầu của giảng viên, đề xuất vấn đề, câu hỏi cần hỏi giảng viên;

b. Làm các bài thực hành, thực tập, thí nghiệm theo yêu cầu môn học và hướng dẫn của giảng viên. Chấp hành nghiêm chỉnh quy định về an toàn lao động;

c. Viết báo cáo thực hành, thực tập, thí nghiệm và nộp cho giảng viên đúng hạn;

d. Hoàn chỉnh báo cáo thực hành, thực tập, thí nghiệm theo góp ý, đánh giá của giảng viên.

^ 5. Tự học, tự nghiên cứu

Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học ở Đại học của sinh viên. Tự học nhằm phát huy tính tự giác tích cực năng lực đọc sách và nghiên cứu của sinh viên để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở các trường Cao đẳng - Đại học là "biến quá trình đạo tạo thành quá trình tự đào tạo của sinh viên". Ngoài thời gian học ở trường, ở lớp, học với thầy cô, những lúc còn lại khác đều có thể là thời gian để tự học kể cả khi giải trí, thư giãn, làm việc tay chân… Tự học không phải là học riêng một mình, mà có nghĩa là chúng ta có thể học mọi lúc, mọi nơi, ở tất cả mọi người và mọi sự việc. SV sẽ có thể học được nhiều hơn, thu được nhiều kết quả hơn nữa bằng cách tự học hơn là chỉ thụ động dựa vào việc nghe, đọc, chép.  

Học tập không đơn thuần chỉ là một quá trình chuyển kiến thức vào bộ óc của ta một cách thụ động mà còn phải là tự học, biến những tri thức ấy thành hành động bằng cách tích cực suy nghĩ. Khi học ta nên đặt ra những câu hỏi, những thắc mắc rồi lại tìm cách giải đáp những vấn đề khúc mắc. Sẽ rất có tác dụng nếu bạn nêu ra được nhiều câu hỏi và tự cố gắng trả lời. SV sẽ càng nhớ được lâu, càng sâu sắc và càng chắc chắn hơn.  

Tự học là tự hỏi chính bản thân mình, tự hỏi để ôn luyện và tự hỏi để biết mình hiểu và không hiểu vấn đề gì để tiếp tục tham khảo. Tự học là tìm tài liệu đọc, hỏi han, lắng nghe và đào sâu giúp ta nắm vững vấn đề. Vì vậy, tự học là không để những điều đã học mà lại còn chưa hiểu trong óc, càng không nên cho qua một cách dễ dàng, cũng chớ để lâu những điều khó hiểu này vì có thể nó sẽ phát sinh những điều khó hiểu khác khi gặp những vấn đề có liên quan.

Ngoài ra, để giúp trí nhớ phát triển tốt, ta có thể tự học bằng cách vận dụng việc học ở mọi lúc, mọi nơi và ở mọi người. Bởi vì nhiều thứ được lưu trữ một cách tự nhiên, ví dụ: SV có thể học ngoại ngữ khi xem truyền hình khi thì một vài từ, khi là một vài câu dần dần sẽ tích lũy trong óc bạn. Tự học là tự làm việc với chính mình, cách học này còn có thể ứng dụng vào việc học tập văn hóa xã hội, học cách làm việc, học cách thông cảm, học cách ứng xử, giao tiếp, học cách phát biểu, diễn thuyết v.v…

Tự học giúp suy nghĩ có được sự chăm chú chuyên tâm, giúp năng lực suy nghĩ được rèn luyện trở nên mạnh mẽ và nhạy bén. Tự học, và chỉ nhờ tự học SV sẽ rũ bỏ hết mọi thói quen ỷ lại, suy nghĩ độc lập hơn, tự do hơn. Sự tự học giúp SV trở thành người nghiên cứu, có được sự tập trung suy nghĩ sâu sắc hơn và tự học cũng là điều kiện cần phải có để tư duy thăng hoa, giúp khai thác tối đa khả năng còn tiềm ẩn của mình.

  • Tự học ở Thư viện
^

Lập kế hoạch và thời gian biểu (tháng, tuần). Dành thời gian hợp lý (3h/ buổi) và kiên trì thực hiện. Nên rủ thêm bạn để đi học đạt kết quả cao hơn.

  • Tự học ở nhà

Lập kế hoạch và thời gian biểu (tuần, ngày). Dành thời gian hợp lý (3h/ ngày) phải kiên trì


a. Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu mà giảng viên giao (nhà trường khuyến khích sinh viên nghiên cứu mở rộng hơn những nội dung và vấn đề được giao);

b. Thực hiện thật tốt kế hoạch nói trên (mạnh dạn liên hệ với giảng viên để được tư vấn, hỗ trợ về vấn đề đang tự học, tự nghiên cứu);

c. Viết báo cáo thu hoạch theo các tiêu chí đánh giá của giảng viên, tranh thủ những ý kiến góp ý của bạn, tư vấn của giảng viên trước khi nộp bài;

d. Hệ thống hóa, lưu giữ tài liệu, kết quả tự học, tự nghiên cứu thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng sau này.

Tổng hợp lại kết quả học của sinh viên như sau:
^

- Nghe giảng: chỉ nhớ 5% -10% những gì đã nghe.

- Đọc bài: 10%- 15%.

- Nghe và nhìn cùng lúc: 20%- 25%.

- Được quan sát thí nghiệm: 30%.- 35%

- Thảo luận nhóm: 50%.

- Thực hành: bằng cách làm bài, ghi lại, viết lại: 75%.


- Giảng giải cho người khác, ứng dụng ngay sau khi học: 90%

Vậy thực hành và làm bài tập giảng giải cho người khác SV tiếp thu được nhiều nhất.

^ II. TƯ VẪN PHƯƠNG PHÁP HỌC TRONG CÁC NĂM CỦA KHÓA HỌC

Một khóa hoc của SV thường là 3 năm đối với trình độ CĐ và 4 năm với trình độ ĐH. Trong tham luận này tôi nói về cách tư vấn đối với SV ĐH.

1. Nhiệm vụ trọng tâm của CVHT đối với SV năm thứ nhất

Với năm đầu tiên, các SV còn rất bỡ ngỡ với hình thức học tập khác hẳn với lúc còn học phổ thông, bạn bè mới, thầy cô mới....Phần lớn các SV vẫn còn rụt rè, thụ động và chưa xác định rõ ràng phương hướng học tập. Đặc biệt là hoàn toàn xa lạ với cách thức học chế tín chỉ.

1.1 Các nhiệm vụ CVHT cần thực hiện

1.1.1 Giới thiệu khung chương trình đào tạo

Đây là công việc quan trọng hàng đầu của CVHT hướng dẫn cho SV tìm hiểu chương trình đào tạo của khoá - ngành và cách lựa chọn học phần.

Kế hoạch thực hiện:

- CVHT có thể giới thiệu một vài Kế hoạch học tập (KHHT) toàn khóa tiêu biểu để các SV làm mẫu. Hướng dẫn cho SV về cách đăng ký học phần cho từng học kỳ, tư vấn cho SV nên chọn học phần tự chọn nào là phù hợp với chuyên ngành mà mình đang học.

- Hướng dẫn cho SV đăng ký sử dụng Thư viện và tìm tài liệu, bài giảng của GV.

- Hướng dẫn cho SV đăng ký môn học.CVHT phải chịu khó trong thời gian này để bám sát các SV trong khâu đăng ký học phần nhất là các SV đến từ các vùng nông thôn ít tiếp xúc với máy tính và internet

Hiệu quả: Thông qua các KHHT toàn khóa mẫu giúp SV dễ tiếp thu hơn trong việc lựa chọn các học phần để đăng ký. Mặc dù CVHT đã sinh hoạt rất kỹ về khung chương trình học và KHHT, nhưng trong thực tế, khi các SV trực tiếp đăng ký các học phần vẫn còn đăng ký chưa đúng. Do đó nếu có bám sát kịp thời của CVHT thì sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề khó khăn cho các SV.

- Tư vấn SV tự nâng cao trình độ ngoại ngữ, gợi ý cho SV thấy rõ trình độ ngoại ngữ cũng là một trong những tiêu chuẩn để xét tốt nghiệp và chọn việc làm.

^ 2. Nhiệm vụ trọng tâm của CVHT đối với SV năm thứ hai và năm thứ ba

Bước sang năm thứ hai & ba SV đã quen thuộc với các hoạt động của trường, lớp, cách đăng ký các học phần....Phần lớn các vấn đề phát sinh có thể xãy ra đối với SV là chọn lựa các học phần phù hợp, định hướng làm luận văn tốt nghiệp, định hướng tương lai...

2.1 Nhiệm vụ của CVHT cần thực hiện

2.1.1 Tư vấn học tập - nghiên cứu khoa học

SV vẫn còn chưa xác định rõ phương pháp học tập đúng đắn nhất là các SV bị điểm yếu kém trong năm học thứ nhất thường cảm thấy mất tự tin. Mặt khác SV thường có xu hướng đăng ký nhiều tín chỉ mà không nghĩ đến năng lực của mình và quan trọng hơn SV thường có xu hướng chạy theo số TC đạt được chứ không quan tâm kiến thức mình học được bao nhiêu? Ích lợi gì? Do đó phần lớn SV học theo kiểu đối phó, ít chú ý đến việc tự học, ít chịu đọc thêm tài liệu để nâng cao kiến thức.

^ Kế hoạch thực hiện:

- Dựa vào kết quả học tập của năm thứ nhất để đánh giá sơ bộ năng lực học tập của từng SV từ đó giúp các SV lập ra kế KHHT phù hợp (thể hiện qua việc ĐKMH phù hợp).

- Rèn luyện tính tự lập cho SV qua cách hướng dẫn SV phương pháp tự học, tìm thông tin trên mạng. Giúp SV nhận thức rõ CVHT chỉ là người tư vấn cho các SV chọn hướng đúng đắn chứ không phải là người “dắt tay chỉ việc”, muốn vậy CVHT phải nhạy bén trong cách trả lời những thắc mắc của SV, không phải bất cứ câu hỏi nào của SV đều bắt buộc CVHT trả lời rõ ràng, đôi khi người CVHT thay vì phải trả lời câu hỏi của SV thì sẽ đặt ra những câu hỏi gợi ý cho các SV để giúp các SV bỏ đi những thói quen thụ động ít chịu tìm tòi suy nghĩ. Tuy nhiên người CVHT phải hết sức nhạy bén và tế nhị trong cách đặt ra câu hỏi để giúp các SV không cảm thấy thất vọng khi có thắc mắc mà không giải quyết được gì!

- Thành lập các nhóm học tập để các SV giỏi phụ đạo cho các SV yếu, kém. Nhấn mạnh phần đóng góp này sẽ được cộng thêm trong ĐRL để khuyến khích các em tham gia. CVHT nên nhạy bén để sắp xếp phân công cho phù hợp, nhắc nhở các SV khá giỏi, đi học đều báo cáo kịp thời với CVHT những trường hợp SV bỏ học thường xuyên. Tư vấn cho các SV thấy rõ việc đăng ký học vừa sức sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp hơn (điểm cao hơn, nắm vững kiến thức hơn do có nhiều thời gian đầu tư cho học tập hơn)

- Phần lớn SV năm thứ ba bắt đẩu chuẩn bị làm LVTN nhưng vẫn chưa định hướng rõ sẽ làm LVTN trên lĩnh vực nào. Do đó CVHT cần tư vấn và tạo điều kiện giúp các SV tham gia học việc tại các phòng thí nghiệm để giúp các SV hình thành dần dần tác phong nghiên cứu khoa học cũng như định hướng nghiên cứu phù hợp với khả năng.

Hiệu quả: SV biết tự lập hơn, năng động hơn trong học tập nghiên cứu. Nhờ có tổ chức các nhóm học tập để các SV khá giỏi đi học đều, giúp đỡ các SV yếu hơn qua đó cũng phát hiện kịp thời những SV có hiện tượng học tập sa sút, bỏ học. Các SV khi được học việc tại các phòng thí nghiệm sẽ học thêm kinh nghiệm trong NCKH, có tác phong công nghiệp hơn và trở nên tự tin hơn khi quyết định lựa chọn đề tài LVTN cho mình.

^ 3. Nhiệm vụ trọng tâm của CVHT đối với SV năm cuối

3.1 Tư vấn hướng làm LVTN – Báo cáo LVTN

LVTN là một học phần khá quan trọng đối với SV năm cuối. Tuy nhiên do cơ chế học theo tín chỉ nên việc làm LVTN của SV bị khống chế thời gian rất nhiều, một LVTN chiếm 10 TC và phải hoàn thành trong vòng 5 tháng, trong đó SV phải mất ít nhất nửa tháng đầu để viết đề cương LVTN và khoảng 1 tháng để viết và xử lý số liệu của LVTN. Như vậy thời gian làm việc tại phòng thí nghiệm (đối với những SV ngành kỹ thuật) chỉ còn khoảng 3-4 tháng. Kế hoạch thực hiện: CVHT cần sinh hoạt trước với SV học phần này, tư vấn kỹ tầm quan trọng của học phần đồng thời cũng nêu rõ thời gian làm việc tại phòng thí nghiệm khá ngắn để SV chuẩn bị tinh thần. CVHT tư vấn cho SV muốn làm LVTN nên tranh thủ bắt đầu làm quen với công việc phòng thí nghiệm từ học kỳ hè và cố gắng hoàn thành tất cả các học phần khác trước khi làm LVTN. Tùy theo học lực của SV, CVHT cũng có thể tư vấn cho SV chọn những đề tài LVTN vừa sức mình.

Hiệu quả:

Nhờ có tư vấn nên đa số những SV muốn làm LVTN đều tích cực hoàn thành phần lớn các học phần trong năm thứ ba để dành nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu, do đó SV đã hoàn thành đúng thời hạn LVTN và đạt kết quả tốt.

^ 3.2. Tư vấn hướng nghiệp và việc làm

Hầu hết SV vẫn chưa định hướng nghề nghiệp, rất hoang mang lo lắng khi nghĩ về tương lai. Mong muốn của phần lớn SV là vừa tốt nghiệp xong sẽ xin được việc làm ngay, một số ít SV với điều kiện kinh tế gia đình ổn định thì mong muốn tiếp tục học thêm chương trình Cao học.

^ Nhiệm vụ của CVHT cần thực hiện

Các SV chưa đầy đủ tố chất để tìm việc làm, thí dụ như: Khả năng nhạy bén để liên hệ giữa kiến thức đã học với điều kiện thực tế còn hạn hẹp. Chưa trang bị những kiến thức nếu được phỏng vấn. Khả năng thích nghi với các điều kiện công việc thực tế chưa cao (Thí dụ như không thích làm những việc nặng nhọc, điều kiện làm việc không tiện nghi...).

^ Kế hoạch thực hiện:

Nếu có điều kiện, CVHT có thể tổ chức các buổi giao lưu giữa SV năm cuối với các cựu SV đã có việc làm ổn định, thành đạt để SV học hỏi kinh nghiệm. Bản thân tôi nhận thấy CVHT muốn thật sự làm tốt nhiệm vụ của mình mà không sâu sát với các thì không thể nào làm tốt vai trò của mình được. Vì vậy chúng ta cũng cần cố gắng làm thật tốt vai trò của mình đã được giao. Nhìn thấy SV ngày một tiến bộ, có việc làm ổn định, có đạo đức tác phong tốt. Đó chính là những phần thưởng vô giá cho chúng ta – những người có trách nhiệm giáo dục và đào tạo con người.

Cần phải khẳng định lại rằng CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường – sinh viên; là một chuyên gia tư vấn về học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp và cả tâm tư tình cảm cho sinh viên trong suốt quá trình học tập tại Trường. Với tham luận này tôi mong rằng CVHT sẽ tìm ra cách tư vấn về phương pháp học tập để SV học tốt theo HTTC đồng thời CVHT ngày càng làm tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Xin trân trọng cảm ơn sự chú ý lắng nghe của các thầy cô.

Thêm một tài liệu vào blog hoặc website của bạn
Реклама:

liên quan:

BÁo cáo tham luậN iconDocuments
1. /Tham luan/Tham lu?n THCS TrЕng An.doc
2. /Tham...

BÁo cáo tham luậN iconBan tổ chức kính mời Ông/Bà viết bài tham luận cho hội thảo theo những nội dung nêu trên Nội dung tham luận

BÁo cáo tham luậN iconTham luan ve ct gvcn

BÁo cáo tham luậN iconNgô Thị Thu Dung Bài báo khoa học, tham luận

BÁo cáo tham luậN iconĐỖ ThỊ Thu HẰng Bài báo khoa học, tham luận

BÁo cáo tham luậN iconNguyỄn ĐỨc Can Bài báo khoa học/ tham luận

BÁo cáo tham luậN iconMai Quang Huy Bài báo khoa học, tham luận

BÁo cáo tham luậN iconNguyỄn ThỊ MỸ LỘc Bài báo khoa học, tham luận

BÁo cáo tham luậN iconNguyỄn ThỊ MỸ LỘc Bài báo khoa học, tham luận

BÁo cáo tham luậN iconĐỖ dung hoà Bài báo khoa học, tham luận

Đặt một nút trên trang web của bạn:
Tài liệu


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©vn.docsread.com 2000-2013
Khi sao chép các vật liệu cần thiết cho các liên kết hoạt động là để thu thập dữ liệu một.
được sử dụng cho việc quản lý
Tài liệu